Từ ngày 1/7/2026, hệ thống định mức xây dựng mới theo Thông tư số 38/2026/TT-BXD chính thức có hiệu lực. Một trong những nội dung đáng chú ý đối với doanh nghiệp xây dựng, nhà thầu, đơn vị tư vấn và các doanh nghiệp cung cấp bê tông là Định mức sử dụng vật liệu xây dựng tại Phụ lục VII. Không chỉ quy định mức hao phí vật liệu phục vụ công tác xây dựng, Phụ lục VII còn dành riêng một chương cho công tác bê tông và định mức cấp phối vật liệu, đồng thời quy định các mức hao hụt trong thi công, vận chuyển, trung chuyển, gia công và bảo quản. Với ngành bê tông thương phẩm, đây là tài liệu đáng chú ý trong hoạt động lập dự toán, lập kế hoạch sử dụng vật liệu và quản lý chi phí công trình. Để có thêm góc nhìn về vật liệu được sử dụng trong các công trình xây dựng, bạn có thể tham khảo bê tông tươi là gì, quy trình sản xuất và những ưu điểm cần biết
Thông tư số 38/2026/TT-BXD được Bộ Xây dựng ban hành ngày 26/6/2026 và có hiệu lực từ 1/7/2026. Văn bản ban hành đồng thời 8 nhóm định mức xây dựng gồm:
1. Định mức dự toán khảo sát xây dựng công trình.
2. Định mức dự toán xây dựng công trình.
3. Định mức dự toán lắp đặt hệ thống kỹ thuật của công trình.
4. Định mức dự toán lắp đặt máy và thiết bị công nghệ.
5. Định mức dự toán thí nghiệm chuyên ngành xây dựng.
6. Định mức dự toán sửa chữa và bảo dưỡng công trình xây dựng.
7. Định mức sử dụng vật liệu xây dựng.
8. Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn xây dựng.
Trong đó, Định mức sử dụng vật liệu xây dựng được quy định tại Phụ lục VII. Thông tư mới đồng thời thay thế Thông tư số 12/2021/TT-BXD, Thông tư số 09/2024/TT-BXD, Thông tư số 08/2025/TT-BXD và Điều 2 Thông tư số 60/2025/TT-BXD.
Theo Phụ lục VII, định mức sử dụng vật liệu trong xây dựng là định mức kinh tế – kỹ thuật quy định mức hao phí của từng loại vật liệu để cấu thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng hoặc một loại cấu kiện, kết cấu xây dựng, phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy phạm thiết kế, thi công. Ví dụ, đơn vị công tác có thể được xác định theo: 1 m³ tường xây, 1 m² lát gạch, một cấu kiện, một kết cấu xây dựng và một đơn vị công tác tương ứng. Điểm cần lưu ý là định mức này được sử dụng, tham khảo làm cơ sở để lập định mức dự toán xây dựng công trình, lập kế hoạch và quản lý vật liệu xây dựng. Như vậy, không nên hiểu định mức sử dụng vật liệu là một “công thức kỹ thuật cố định” áp dụng giống nhau cho mọi công trình.
Phụ lục VII được chia thành hai nhóm nội dung lớn.
Phần định mức sử dụng vật liệu
Bao gồm: Công tác bê tông và định mức cấp phối vật liệu của công trình giao thông, công tác xây, trát và hoàn thiện, công tác làm giàn giáo, gia công kết cấu gỗ, gia công kim loại và kết cấu kim loại, công tác bảo ôn và một số công tác xây dựng khác.
Phần định mức hao hụt vật liệu
Bao gồm: Hao hụt vật liệu xây dựng trong thi công, hao hụt vữa bê tông, hao hụt trong khâu trung chuyển, hao hụt trong khâu gia công và hao hụt trong vận chuyển và bảo quản tại kho. Đối với doanh nghiệp bê tông thương phẩm, hai nhóm đáng chú ý nhất là định mức cấp phối bê tông và định mức hao hụt vữa bê tông.
Chương I của Phụ lục VII quy định định mức sử dụng vật liệu trong công tác bê tông và cấp phối vật liệu. Các bảng được xây dựng cho 1 m³ vữa bê tông, phân biệt theo nhiều yếu tố như: loại xi măng, mác bê tông, kích thước cốt liệu lớn, độ sụt, lượng xi măng, lượng cát, lượng đá, lượng nước, loại phụ gia.
Ví dụ, các bảng riêng được xây dựng cho nhiều mức độ sụt như 0,5 - 1 cm, 2 - 4 cm, 6 - 8 cm, 10 - 12 cm và các nhóm cấp phối khác. Điều này giúp việc lập dự toán và tính toán nhu cầu vật liệu có cơ sở thống nhất hơn theo từng yêu cầu công tác.
Phụ lục VII cũng đưa ra bảng tương quan tham khảo giữa mác bê tông và cấp độ bền bê tông theo cường độ chịu nén. Một số mức phổ biến gồm: M200 tương ứng B15, M250 tương ứng B20, M300 tương ứng B22,5, M350 tương ứng B25 hoặc B27,5, M400 tương ứng B30, M450 tương ứng B35, M500 tương ứng B40, M600 tương ứng B45. Việc thể hiện đồng thời mác bê tông và cấp độ bền giúp các bên liên quan thuận tiện hơn khi đọc hồ sơ thiết kế, lập dự toán và đối chiếu các yêu cầu kỹ thuật. Tuy nhiên, cấp độ bền thực tế của bê tông vẫn phải được xác định và nghiệm thu theo hồ sơ thiết kế, tiêu chuẩn áp dụng và kết quả thử nghiệm của công trình.
Một nội dung đáng chú ý khác là hướng dẫn tính lượng phụ gia khi lập dự toán. Theo Phụ lục VII:
Phụ gia dẻo hóa: liều dùng khoảng 0,5 - 0,8% khối lượng xi măng, mức giảm nước 5 -10%.
Phụ gia siêu dẻo: liều dùng khoảng 0,5 - 1,0% khối lượng xi măng, mức giảm nước 12 - 20%.
Polycarboxylate: liều dùng khoảng 0,5 - 1,5% khối lượng xi măng, mức giảm nước 21 - 30%.
Điểm đặc biệt cần nhấn mạnh là tài liệu ghi rõ đây là hướng dẫn khi lập dự toán. Các con số trên vì vậy không nên được hiểu là tỷ lệ phụ gia bắt buộc cho tất cả các loại bê tông thương phẩm. Trong sản xuất thực tế, liều lượng phụ gia còn phụ thuộc vào loại xi măng, đặc tính cốt liệu, nhiệt độ, thời gian vận chuyển, độ sụt yêu cầu, cường độ, thời gian duy trì tính công tác và nhiều điều kiện kỹ thuật khác.
Đây là điểm quan trọng nhất đối với ngành bê tông, Phụ lục VII quy định rằng trong thi công phải căn cứ vào: tính chất cơ lý của cốt liệu, biện pháp thi công, điều kiện thi công, để thí nghiệm xác định cấp phối vật liệu bê tông gồm xi măng, cát, đá, phụ gia và nước, qua đó bảo đảm đúng yêu cầu kỹ thuật của công trình. Điều này có nghĩa các bảng định mức không thể thay thế hoàn toàn hoạt động: Thiết kế cấp phối - thử nghiệm - hiệu chỉnh - phê duyệt - sản xuất - kiểm soát chất lượng. Hai công trình cùng sử dụng bê tông M300 hoặc B22,5 vẫn có thể cần cấp phối thực tế khác nhau nếu nguồn cốt liệu, độ sụt, thời gian vận chuyển, điều kiện bơm hoặc yêu cầu kỹ thuật khác nhau.
Ngoài bê tông thông thường, Phụ lục VII còn có các hướng dẫn đối với một số nhóm bê tông có yêu cầu riêng. Trong đó có bê tông chống thấm, bê tông sử dụng cát mịn, bê tông chịu uốn, bê tông không co ngót, một số loại bê tông đặc biệt, các cấp phối có sử dụng xỉ hạt lò cao nghiền mịn S95. Đây là điểm đáng chú ý khi ngành xây dựng ngày càng sử dụng nhiều loại bê tông có tính năng chuyên biệt thay vì chỉ phân loại sản phẩm theo mác chịu nén.
Phần 2 của Phụ lục VII quy định riêng định mức hao hụt vữa bê tông trong vận chuyển và đổ bê tông vào công trình. Một số mức được quy định gồm:
Bê tông đổ tại chỗ bằng thủ công hoặc cần cẩu: 2,5%.
Bê tông đổ tại chỗ bằng máy bơm bê tông: 1,5%.
Bê tông cọc khoan nhồi sử dụng vách bentonite: 10%.
Bê tông cọc khoan nhồi có ống vách: 5%.
Bê tông đúc sẵn: 1,5%.
Bê tông hầm: 3%.
Phụ lục giải thích tỷ lệ này tính gộp hao hụt trong quá trình vận chuyển và đổ bê tông vào công trình so với khối lượng gốc. Ngoài ra, đối với xi măng các loại, định mức hao hụt vật liệu trong thi công được quy định ở mức 1%. Không nên hiểu “định mức hao hụt” là mức bê tông được phép lãng phí, đây cũng là điểm dễ bị diễn giải sai. Các tỷ lệ hao hụt trong Phụ lục VII là định mức kinh tế - kỹ thuật phục vụ tính toán, lập dự toán và quản lý vật liệu, không có nghĩa công trường mặc nhiên được phép làm thất thoát lượng vật liệu tương ứng. Trong thực tế, kiểm soát hao hụt vẫn liên quan trực tiếp đến: lập kế hoạch khối lượng, điều phối xe bồn, tổ chức ca đổ, bố trí máy bơm, điều kiện mặt bằng, kiểm soát thời gian chờ, nghiệm thu khối lượng và quản lý bê tông dư sau thi công. Do đó, càng kiểm soát tốt quá trình cung ứng và thi công, doanh nghiệp càng có khả năng hạn chế lượng bê tông dư và tối ưu chi phí thực tế. Những thay đổi liên quan đến định mức và vật liệu cũng có thể được nhìn nhận trong bối cảnh sản xuất bê tông thương phẩm. Bạn có thể tìm hiểu thêm về bê tông thương phẩm, tiêu chuẩn, ứng dụng và quy trình đặt hàng để có thêm thông tin.
Với chủ đầu tư và đơn vị tư vấn, bộ định mức tạo thêm cơ sở thống nhất trong công tác lập và kiểm soát dự toán.
Với nhà thầu, tài liệu hỗ trợ tính toán nhu cầu vật liệu, dự kiến hao hụt và xây dựng kế hoạch cung ứng phù hợp với biện pháp thi công.
Với nhà cung cấp bê tông thương phẩm, định mức là nguồn tham khảo quan trọng khi phối hợp với khách hàng về khối lượng, cấp độ bền, độ sụt và yêu cầu cung ứng.
Tuy nhiên, chất lượng bê tông tại công trình vẫn phụ thuộc vào việc tuân thủ thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp phối đã được kiểm chứng và quy trình kiểm soát chất lượng thực tế.
Một trong những giá trị đáng chú ý của Thông tư 38/2026/TT-BXD là việc hệ thống hóa tương đối chi tiết mối quan hệ giữa vật liệu, cấp phối, loại bê tông và hao hụt trong quá trình thi công. Nhưng ở góc nhìn kỹ thuật, định mức chỉ là một phần của bài toán. Để một mét khối bê tông đáp ứng đúng yêu cầu công trình, cần đồng thời kiểm soát: Nguyên liệu đầu vào - Thiết kế cấp phối - Sản xuất tại trạm - Vận chuyển - Kiểm tra tại công trường - Lấy mẫu - Đánh giá cường độ - Nghiệm thu.
Chính vì vậy, Phụ lục VII cũng yêu cầu cấp phối sử dụng thực tế phải được xác định thông qua thí nghiệm phù hợp với đặc tính vật liệu và điều kiện thi công, thay vì áp dụng máy móc các bảng định mức.
Việc Thông tư 38/2026/TT-BXD có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 là một thay đổi đáng chú ý trong hệ thống quản lý chi phí và định mức xây dựng tại Việt Nam. Đối với lĩnh vực bê tông, các quy định mới tiếp tục nhấn mạnh vai trò của việc xác định đúng nhu cầu vật liệu, kiểm soát hao hụt và lựa chọn cấp phối phù hợp với yêu cầu kỹ thuật thực tế. Bê tông Mê Kông thường xuyên cập nhật các quy định, tiêu chuẩn và xu hướng kỹ thuật của ngành nhằm cung cấp thêm thông tin tham khảo cho chủ đầu tư, nhà thầu và các đơn vị thi công trong quá trình lựa chọn, đặt hàng và sử dụng bê tông thương phẩm. Điều quan trọng không chỉ là cung cấp đủ khối lượng bê tông, mà còn là cung cấp đúng yêu cầu kỹ thuật, đúng thời điểm và phù hợp với điều kiện thực tế của từng công trình. Từ góc độ thực tế, việc lựa chọn sản phẩm và phương án cung ứng vẫn cần dựa trên yêu cầu cụ thể của từng công trình. Xem thêm năng lực cung ứng bê tông tươi tại TP.HCM, khu vực phục vụ và quy trình báo giá.
Trang Nguyễn - Gu Digital
@ Bản quyền thuộc về Công ty TNHH Bê tông Mê Kông